Thứ sáu, ngày 31-10-2014
Công cụ làm việc cá nhân


Trái ngọt của 20 năm đổi mới

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao NGUYỄN DY NIÊN viết, “mùa đông năm nay, tôi cảm nhận một sự ấm áp khác, một sự ấm áp sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn thách thức. Ðó là sức sống đang trào dâng mãnh liệt của cả dân tộc, niềm hứng khởi về một năm thành công vừa qua và niềm hy vọng lớn lao về chặng đường phía trước.”

Xuân Ðinh Hợi đến trong không khí khá ấm áp. Các nhà khoa học bảo đó là do ảnh hưởng của El Nino và "cậu bé quái chiêu" này sẽ mang lại khá nhiều rắc rối cho thời tiết và công việc làm ăn của bà con làm nông nghiệp nước ta. Tuy nhiên, trong cả mùa đông năm nay, tôi cảm nhận một sự ấm áp khác, một sự ấm áp sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn thách thức. Ðó là sức sống đang trào dâng mãnh liệt của cả dân tộc, niềm hứng khởi về một năm thành công vừa qua và niềm hy vọng lớn lao về chặng đường phía trước. Vận khí đất nước trong mùa xuân này gợi nhớ đôi câu đối khắc trên cung điện ở cố đô Huế: Bách hoa thổ diễm xuân phong noãn - Vạn chúng cánh tân quốc vận xương (Trăm hoa nhả đẹp khí xuân ấm, Vạn nhà thêm mới vận nước lên) (1).

Bính Tuất 2006 khởi đầu trong niềm phấn khởi và náo nức của người dân cả trong và ngoài nước tham gia góp ý cho dự thảo Báo cáo Chính trị Ðại hội lần thứ X của Ðảng. Rất nhiều ý kiến tâm huyết của nhân dân ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Mới thấy dân mình trách nhiệm lắm, tin Ðảng lắm. Càng vui hơn khi thấy ở nhiều nước, các kỳ bầu cử chỉ có vài mươi phần trăm dân đi bầu với một thái độ thờ ơ, chán ngán với chính trị. Sự náo nức đón mừng Ðại hội X làm ta nhớ lại Ðại hội VI - Ðại hội của đổi mới cách đây 20 năm, một Ðại hội với rất nhiều ý nghĩa và hy vọng. Hai thập kỷ sau, đất nước đã mang diện mạo mới, tự tin hội nhập với tâm thế mới, một minh chứng hùng hồn cho quyết sách đúng đắn và khả năng chèo lái của Ðảng. Ðại hội X là sự tổng kết của chặng đường 20 năm và mang theo sự kỳ vọng vào sức phát triển mới của đất nước với khẳng định tiếp tục công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế với chủ trương "đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn". Thành công của Ðại hội X cho thấy, trong bất kỳ giai đoạn và hoàn cảnh nào, không có gì quý giá hơn là lòng tin của dân.

Niềm tin đó đã thể hiện cụ thể ở những thành tựu kinh tế - xã hội vượt bậc của năm 2006. Mặc dù vẫn gặp nhiều khó khăn muôn thuở như thiên tai, dịch bệnh, diễn biến khó lường của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta vẫn đạt được mức tăng trưởng 8,17% và vẫn là một trong những nền kinh tế tăng trưởng hàng đầu tại khu vực. Và chưa bao giờ bảng thống kê cuối năm lại ghi nhận nhiều con số kỷ lục đến vậy: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức 10,2 tỷ USD, xuất khẩu đạt 39,6 tỷ USD, trong đó nhập siêu thấp nhất từ trước đến nay với mức 2,8%, ODA đạt kỷ lục 4,45 tỷ USD.

Trong ấm thì ngoài càng êm, 2006 có thể nói là năm chứng kiến nhiều thành tựu đối ngoại quan trọng của đất nước. Ðại hội X khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng thế giới. Thế và lực mới của đất nước đã tạo chỗ dựa vững chắc cho những bước nước rút cuối cùng của chặng marathon 11 năm 11 tháng đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, và Việt Nam tự hào trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức toàn cầu này, hoàn tất bước đi cuối cùng để thật sự hội nhập hoàn toàn vào kinh tế và thương mại quốc tế. Lòng tin của cộng đồng quốc tế vào khả năng của Việt Nam càng được củng cố khi nước ta tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao các nhà lãnh đạo Kinh tế APEC 14, cùng lúc đó đón năm vị lãnh đạo thăm song phương.

Thành công của sự kiện quan trọng này là thông điệp gửi tới cả thế giới về một đất nước Việt Nam đang phát triển hội nhập sâu rộng, thanh bình, an ninh và sẵn sàng gánh vác các công việc trọng đại của cộng đồng quốc tế. Lòng tin ấy cũng đã thể hiện thành sự nhất trí cao của các nước châu Á khi đề cử Việt Nam làm ứng cử viên duy nhất của châu lục vào ghế Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, thể hiện thành con số kỷ lục của cả đầu tư trực tiếp và vốn tài trợ của các nhà đầu tư, tài trợ quốc tế, thành sự đánh giá của các tổ chức tư vấn quốc tế rằng Việt Nam có môi trường kinh doanh hấp dẫn thứ ba toàn cầu. Chúng ta đã rất tự hào khi báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng trên thế giới trong năm nay và đặc biệt là tháng 11 đều xuất hiện dày đặc cái tên "Việt Nam", đặc biệt là khi hai tiếng đáng tự hào đó đi cùng với những danh từ thành công, ngôi sao, với những động từ phát triển, hy vọng, và với những tính từ mạnh mẽ, tươi đẹp, hiếu khách, an toàn. Rõ ràng, đất nước vào thời điểm đó đã trở thành tâm điểm hy vọng của thế giới. Và tương tự như trong đối nội, trong đối ngoại không gì quý hơn là có được lòng tin của bạn bè, đối tác.

Tờ Le Figaro của Pháp nhận định những thành tựu năm qua của Việt Nam là trái ngọt của cả 20 năm đổi mới. Những gì đã gặt hái được khiến cho dân tộc bước vào xuân mới với dáng vóc mới đầy tự tin và hy vọng. Tất nhiên, chúng ta lạc quan nhưng không chủ quan. Những chông gai trên chặng đường phía trước chắc chắn có nhiều, đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt và những cơ chế, luật lệ mới đối với một nền kinh tế còn yếu và là thành viên non trẻ của WTO. Trong khi đó, bốn nguy cơ mà Ðảng ta đã thẳng thắn vạch ra vẫn còn tồn tại. Tệ tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu đã ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của dân đối với sự lãnh đạo của Ðảng. Xây dựng và chỉnh đốn Ðảng là khâu then chốt và cần được tiến hành mạnh mẽ, thường xuyên. Ðiều quan trọng là, dân luôn tin Ðảng bởi Ðảng ta là Ðảng cách mạng, thẳng thắn nhận định những yếu kém của mình để tự chỉnh đốn. Quyết tâm chống tham nhũng đã được Ðảng, Chính phủ thể hiện bằng những biện pháp quyết liệt trong thời gian qua. Chống tham nhũng là một trong ba trọng tâm công tác của Chính phủ trong năm 2007. Càng hội nhập sâu rộng, yêu cầu và trách nhiệm càng cao, đòi hỏi Ðảng ta càng phải nâng tầm trí tuệ, đạo đức và trình độ lãnh đạo của mình, đáp ứng sự kỳ vọng của toàn dân, xứng đáng với lời căn dặn của Bác: "Ðảng ta là đạo đức, là văn minh - Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no".

Sự lãnh đạo của Ðảng và lòng tin của dân chính là nguồn nội lực giúp cả dân tộc vượt qua mọi thách thức trong suốt chặng đường đã qua và sắp tới. Qua 20 năm đổi mới và nhìn dài rộng hơn là cả chiều dài lịch sử cách mạng, bài học lớn nhất và xuyên suốt vẫn là bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Sức mạnh dân tộc ta còn là truyền thống văn hóa hàng ngàn năm, là thế và lực đang ngày một lớn mạnh. Sức mạnh thời đại chính là xu thế hòa bình và phát triển, là làn sóng toàn cầu hóa, là cuộc cách mạng khoa học công nghệ, là tự do hóa kinh tế, thương mại với các dòng vốn, công nghệ chu chuyển khắp toàn cầu. Ðiều cốt yếu nhất là phải lấy nội lực làm trọng, luôn tập trung mọi nguồn lực của chính mình, lấy đó làm gốc, trên cơ sở đó tiếp nhận ngoại lực. Thuyền ta đã ra biển lớn, nội lực chính là khung thuyền vững, động cơ khỏe, tay lái giỏi, thủy thủ đoàn đồng tâm hiệp lực, với tâm thế đó sẽ tiếp nhận ngoại lực là gió, là hải lưu, là các sự trợ giúp khác để vượt qua mọi sóng gió bão táp mà tiến lên.

Ðể tận dụng được các nguồn ngoại lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên nền tảng cơ bản là thế và lực không ngừng lớn mạnh của đất nước, trong lĩnh vực đối ngoại chúng ta phải kiên trì các nguyên tắc vàng đã được thử lửa qua suốt chặng đường đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ðầu tiên, đó là việc đặt lợi ích chính đáng của đất nước lên trên hết. Lợi ích của dân tộc, hơn lúc nào hết, đó là hòa bình, ổn định và phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dù phải xử lý nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau, đều phải bảo đảm cho được mục tiêu đó. Thứ hai, kiên trì đường lối độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa. Lịch sử đất nước và thực tiễn cách mạng đã cho thấy, chỉ khi nào giữ vững độc lập, tự chủ thì chúng ta mới có được đường lối đúng đắn, phục vụ lợi ích dân tộc và giành được thắng lợi. Ðồng thời, ta cũng phải đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ vì thế giới là một tổng thể của nhiều nước với các chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển khác nhau. Quan hệ với mỗi nước, mỗi nhóm nước và mỗi tổ chức quốc tế đều mang lại cho Việt Nam những lợi ích nhất định, từ đó tận dụng được tối đa nguồn ngoại lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thứ ba, vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trên thực tế, trong quan hệ quốc tế luôn có sự đan xen, va chạm về lợi ích, do đó song trùng lợi ích luôn đi đôi với mâu thuẫn. Ðiều quan trọng là phải biết cách gia tăng lợi ích chung, giảm nhẹ mâu thuẫn. Thứ tư, hợp tác cùng có lợi. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, không ai được cả và cũng không ai mất hết. Hợp tác cùng có lợi là sợi dây bền chặt ràng buộc hiệu quả quan hệ quốc tế, không chỉ trong chính trị mà cả trên thương trường kinh tế với thuật ngữ win-win game.

Trong quá trình thực hiện đường lối đối ngoại của Ðảng, ngành ngoại giao luôn thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", kiên trì nguyên tắc, nhưng lại phải hết sức linh hoạt trong sách lược, về "Ngũ tri" (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến hóa). Nghe thì đơn giản, nhưng thực hiện được là không dễ. Biết thế và lực của mình đến đâu, đánh giá tình hình cho đúng là hết sức quan trọng.

Nhiệm vụ đối ngoại càng ngày càng nặng nề bởi yêu cầu của đất nước ngày càng cao khi đã hội nhập thực sự sâu rộng, và bởi ta không chỉ lo cho mình mà còn chung tay gánh vác công việc quốc tế. Ðối ngoại luôn là nhân tố đóng góp trực tiếp và quan trọng trong quá trình kết hợp nội lực và ngoại lực. Là sự nối tiếp của đối nội, đối ngoại góp phần phát huy những thành quả to lớn của công cuộc đổi mới thành công, biến đó thành cơ sở vững chắc để làm tăng vị thế đất nước, để thu hút các nguồn lực phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Nguyễn Dy Niên, Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, Báo Nhân dân).

 

(1) Nguyễn Thừa, Câu đối ngày xuân, website Tạp chí Quê hương.